cua lột sốngtin tức tổng hợpcua lột có hóa đơn

Hành trình vượt ‘tọa độ lửa’ và những ca mổ dưới hầm sâu của Giáo sư Nguyễn Tụ

TPO - Giữa tháng 12/1965, bác sĩ Nguyễn Tụ nhận quyết định đi B. Đến ngày 27/2/1966, ông cùng đoàn quân y rời Hà Nội, vượt Trường Sơn vào chiến trường Tây Nguyên, nơi không có bệnh viện theo nghĩa thông thường và việc cứu chữa thương binh phải tổ chức ngay trong chiến trường.

Vượt Trường Sơn vào chiến trường

Cuối tháng 2/1966, trên hai chiếc xe cứu thương U-oát, bác sĩ Nguyễn Tụ (sau này ông trở thành Thiếu tướng, GS.TS, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân) cùng đoàn cán bộ quân y rời Hà Nội khi trời vừa sập tối. Hành trình vào chiến trường không diễn ra ban ngày mà phải đi trong đêm, nhằm tránh những đợt đánh phá của không quân Mỹ.

2.jpg
Giáo sư Nguyễn Tụ (hàng thứ hai, ngoài cùng bên phải) cùng đồng đội tại chiến trường Tây Nguyên, tháng 7/1974.

Giáo sư Nguyễn Tụ nhớ lại, những chặng đường ấy nối tiếp nhau qua những địa danh mà ông và đồng đội mỗi khi nhắc lại vẫn còn nguyên cảm giác căng thẳng. Ông kể: “Chúng tôi đi ban đêm, qua những nơi sau này nghĩ lại vẫn còn rùng mình: Hàm Rồng, Bến Thủy, Đồng Lộc… chỉ cần chậm một nhịp là trúng bom”.

Có những đoạn xe phải dừng lại vì nước lũ, có những đêm phải nằm im bên mép đường vì máy bay đang chuẩn bị ném bom, có lúc vừa xuống xe đã nghe tiếng cảnh báo “bom bi”, buộc phải lao ra khỏi vị trí. Hành trình không chỉ là di chuyển mà là thử thách đầu tiên với một lực lượng đang thực sự bước vào chiến trường phía trước.

Đến làng Ho (Quảng Bình cũ), đoàn dừng lại, chuyển từ hành quân cơ giới sang hành quân bộ theo đường giao liên dọc Trường Sơn. Từ đây, mỗi người mang theo ba lô, lương thực, võng, đi qua từng trạm trong điều kiện thiếu thốn.

“Có ngày chỉ còn cơm vắt với muối, có khi phải ăn cháo vì hết gạo; người sốt rét nằm lại trạm, hôm sau lại gượng dậy đi tiếp cho kịp đơn vị”, Giáo sư Nguyễn Tụ kể lại trong hồi ký của mình.

7.jpg
Giáo sư Nguyễn Tụ tại thời điểm làm Chủ nhiệm Quân y chiến trường Tây Nguyên (B3), năm 1973.

Trong hành trình đó, có những tình huống bất ngờ. Một lần, cả đoàn bị một đơn vị bộ đội bao vây vì nghi là biệt kích do thông tin nhầm lẫn. Sau khi kiểm tra, mọi việc mới được giải tỏa. Theo Giáo sư Nguyễn Tụ, đó là một tình huống “hú vía”, chỉ cần chậm một chút hoặc không giải thích kịp thời, hậu quả rất khó lường.

Khi đến vị trí tập kết ở B3 (mặt trận Tây Nguyên), điều hiện ra trước mắt bác sĩ Nguyễn Tụ và đồng đội đi cùng không phải là một bệnh viện, mà chỉ là cánh rừng. Ngay trong những ngày đầu, thương binh đầu tiên mà đơn vị tiếp nhận lại chính là người của đơn vị đã bị thương trên đường hành quân.

Chính từ thời điểm đó, bác sĩ Nguyễn Tụ trở thành người trực tiếp tổ chức hệ thống quân y giữa chiến trường khốc liệt.

“Muốn làm chiến sĩ quân y giỏi, muốn hoàn thành nhiệm vụ thì trước hết phải là người lính, phải biết chiến đấu để bảo vệ mình và bảo vệ thương binh”

Thiếu tướng, GS.TS, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tụ

Phẫu thuật dưới hầm sâu giữa rừng già

Cuối năm 1965, tại Chiến dịch Pleime - Ia Drang, khi lần đầu đối mặt trực tiếp với quân Mỹ, những hạn chế trong công tác quân y của ta đã bộc lộ rõ.

Theo Giáo sư Nguyễn Tụ, lực lượng quân y khi đó còn mỏng, việc chuyển thương gặp nhiều khó khăn, trong khi cách bố trí trạm chưa theo kịp cách đánh cơ động của đối phương. Có những trạm bị oanh tạc, thương binh không được cứu chữa kịp thời, tỷ lệ tử vong cao, để lại những bài học trực tiếp từ thực tế chiến trường.

16.jpg
Giáo sư Nguyễn Tụ báo cáo về phương pháp đào tạo liên tục tại lớp tập huấn của ngành Y tế, năm 1993.
27.jpg
Trung tướng, PGS.TS Nghiêm Đức Thuận - Chính ủy Học viện Quân y, tặng hoa tri ân Giáo sư Nguyễn Tụ nhân dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025.

Sang năm 1966, trong Chiến dịch Sa Thầy, hệ thống quân y được bố trí lại theo hướng phân tán hơn, hình thành nhiều tuyến, có đường chuyển thương dự bị, có lực lượng bảo vệ trạm, giảm sự phụ thuộc vào một điểm cố định. Nhờ đó, dù số lượng thương binh tăng lên, việc cứu chữa vẫn được thực hiện kịp thời hơn, tỷ lệ tử vong giảm. Đến năm 1967, trong Chiến dịch Đắc Tô, cách tổ chức này tiếp tục được hoàn thiện.

“Để bảo đảm cho đơn vị chốt trên dãy Ngọc Bờ Biêng, chúng tôi triển khai đội phẫu thuật với hầm sâu 12 mét để tránh bom B52, tổ chức lương khô để bảo đảm dinh dưỡng, vừa cứu chữa vừa duy trì lực lượng trong điều kiện bị đánh phá liên tục”, Giáo sư Nguyễn Tụ viết trong hồi ký của mình.

Khi đó, việc cứu chữa thương bệnh binh không diễn ra trong bệnh viện cố định mà gắn trực tiếp với từng hướng tác chiến, từng khu vực, từng tình huống cụ thể. Trong điều kiện đó, lực lượng quân y không còn đứng phía sau mà đi cùng chiến dịch.

26.jpg
Lãnh đạo Bộ Quốc phòng trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tặng Giáo sư Nguyễn Tụ.

Ở chiến trường, theo Giáo sư Nguyễn Tụ, không tồn tại bệnh viện theo nghĩa thông thường. Các điểm phẫu thuật đặt trong rừng, hầm đào sâu để tránh bom, băng cá nhân nhuộm bằng vỏ cây để không lộ, ánh sáng khi mổ phải hạn chế và mỗi ca mổ luôn phải tính đến phương án cơ động khi cần thiết.

Giáo sư Nguyễn Tụ cho biết, có những đội phẫu thuật bị tiêu diệt, nhiều cán bộ bị bắt, bị thương hoặc hy sinh ngay trong khi làm nhiệm vụ. Trong tổng số khoảng 3.000 cán bộ, nhân viên quân y ở Tây Nguyên, có người bị bắt, có người bị thương, có người hy sinh, nhưng lực lượng vẫn duy trì được hệ thống cứu chữa và giữ được tính mạng thương binh.

Từ thực tế những năm tham gia lực lượng quân y trong kháng chiến chống Pháp cho tới hơn một thập niên làm nhiệm vụ tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư Nguyễn Tụ đã rút ra những bài học hình thành từ chiến trường, không chỉ giải quyết yêu cầu cứu chữa trong điều kiện khốc liệt, mà còn trở thành cơ sở để ông hệ thống hóa thành tư duy và phương pháp đào tạo các thế hệ quân y sau này.

dsc7915.jpg
dsc7830.jpg
a-1.jpg
Giáo sư Nguyễn Tụ tham dự hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Quân y Việt Nam (16/4/1946 - 16/4/2026), tại Học viện Quân y.

Thiếu tướng, GS.TS, Anh hùng LLVTND Nguyễn Tụ sinh năm 1928 tại Phú Thọ, tham gia cách mạng từ sau Cách mạng tháng Tám. Năm 1947, ông trúng tuyển lớp Y tá Vệ quốc đoàn khóa I, bắt đầu công tác trong ngành quân y. Sau đó ông thực hiện nhiệm vụ tại Đại đoàn 316, tham gia nhiều chiến dịch lớn, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ. Giai đoạn 1955-1963, ông vừa công tác vừa học tập, hoàn thành chương trình bác sĩ và được cử đi đào tạo tại Liên Xô; năm 1963 giữ cương vị Hiệu trưởng Trường Quân y Quân khu Tây Bắc.

Cuối năm 1965, ông được điều vào chiến trường Tây Nguyên, tham gia Đoàn 84 (sau là Bệnh viện Quân y 211), giữ cương vị Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Quân y mặt trận B3 trong giai đoạn 1965-1975. Sau chiến tranh, ông công tác tại Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y), giữ cương vị Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện, tham gia đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực quân y trong nhiều năm.